|
Văn hóa Việt
Nam thời tiền sử và sơ sử.
+ Văn hóa Việt
nam thời tiền sử.
- Văn
hóa Núi Đọ đây là thới kư nguyên sơ người
việt cổ đă biết chế tác ra các
công cụ thô sơ bằng đá, rừu tay
-
Từ
20 đến 15 ngh́n năm trước CN con người hiện
đại đă cư trú trên địa bàn rộng và là chủ
nhân của nền văn hóa Sơn Vi chủ yếu là vùng
trung du bắc bộ, BTB, cuộc sống dựa vào săn
bắn với các công cụ thô sơ nhưng đă có những
bước đổi mới hơn trước. có cạnh và chặt đẽo
được, họ đă biết chôn người tại nơi cư chú
cho thấy họ đă có niềm tin, về một thế giới
khác. Văn hóa Ḥa B́nh cách đây khảng 12.000
– 7000 năm họ sống bằng săn bắt, hái lượm và
họ đă biết thích nghi với môi trường tự
nhiên họ đă để lại những dấu tích như: hiện
vặt bằng sương khắc h́nh cá, thú và những
h́nh vẽ trên hang Đồng Nội, những mảnh thổ
hoàng.. họ đă biết tư duy về thời gian, h́nh
tṛn biểu hiện cho mặt trời, h́nh chữ vẽ
trên đá.
-
Vào thời kỳ đá mới cách đây khoang 5000 năm
đă xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thủy.
nên nông nghiệp đă phát triển cho nên mưa,
gió, hiên tượng tự nhiên đă trở thành những
thân linh của con người. Tập tục cúng cơm
mới, cúng nếp mới... đă h́nh thành từ đây (
ăn cơm mới nói chuyện cũ; Cơm tẻ là mẹ ruột;
có thực mới vực được đạo...).
+ Văn hóa Việt
Nam thời Sơ Sử
-
Lănh thổ Việt nam được tồn tại ba trung tâm
văn hóa lớn cách đây khảng 4000 năm.
+ Văn hóa Đông
Sơn (người Việt cổ)
+ Văn hóa Sa
Huỳnh (chăm, chămpa)
+ Văn hóa Đồng
Nai (giai đoạn đồng và sắt) (VH Óc Eo của cư
dân malai, đa đảo, sinh sống ở Tây Nam Bộ
sau CN).
- VH
Đông Sơn:
trong thời đại đồng thau, ở miền Bắc đặc
điểm văn hóa c̣n khá rơ ràng được phân chia
ra các khu vực sông Hồng, Mă, Cả fản ánh sự
tồn tại của các bộ lạc. Cư dân đông sơn gắn
liền với trồng lúa nước, trị thủy đắp đê
chống lũ lụt, với các dụng cụ như cuốc xẻng,
mai thuổng phục vị canh tác đặc biệt là cày,
chăn nuôi gia súc, đỉnh cao của thời kỳ này
là: đúc đồng, trang trí hoa văn trên các
hiện vật, và quy mô làng mạc được mở rộng.
bên cạnh nơi cư trú là các di chỉ mộ táng.
Với một đời sống nghệ thuật phong phú ca
múa, hoa văn trang trí, chế tác đá, đúc
đồng.
-
Vào thế kỷ VII TCN với sự kết hợp các bộ
lạc lại và h́nh thành nên nhà nước Văn Lang
có biên giới từ Việt Trung cho tới Quảng
B́nh. Do chiến tranh đă là tiền đề cho những
cho sự phát triển mạnh về mọi mặt: quân sự,
chính trị, ngoại giao, canh nông, văn hóa
... Trống đồng, nỏ thần, các truyền thuyết
về bánh chưng bánh dày, Trọng Thủy - Mỵ
Châu, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Chữ Đồng Tử, sự
tích Trầu Cau... đă phản ánh xác thực điều
đó.
-
Về
ăn mặc: có những y phục khá phong phú giản
dị, g̣n gàng, ở trần đóng khố, mặc váy,
nhưng vẫn c̣n có một số áo cánh dài tay, xẻ
ngực mặc yếm (nữ) có bốn kiểu tóc các trang
phụ lễ hội như váy lông chim, lá kết, khố
dài thêu…đ̣ trang sức làm bằng đồng, thủy
tinh được đao ở cổ, tay.
-
Tín ngưỡng: thờ thần mặt trời, mưa dông, các
nghi lễ phồn thực, hát đối, đua thuyền, thả
diều.
-
Nghệ thuật âm nhạc: trống đồng, sênh, phách,
khèn, và giao lưu với 2 nền văn hóa Sa
Huỳnh, Đồng Nai và Nam trung hoa
- Văn Hóa Sa
Huỳnh:
-
Từ
Đèo Ngang đến Đồng Nai: nền tảng là vă hóa
hậu đá mới cách đây hơn 4000 năm cho tới
thời kỳ đại sắt sớm những thế kỷ 7 – 6 TCN
với các di tích như: Khu mộ chum hàng g̣n,
ngũ thù, vương măng ở di tích hậu xá Quảng
Nam.
-
Đặc trưng VH: mai táng bằng chun gốm h́nh
ṿ, h́nh trứng, h́nh trụ có kích thước lớn,
nắp đạy h́nh nón cụt hoạc lồng bàn. Chứa
nhiều đồ quư như đá quư, thủy tinh đồng sắt,
gốm.
-
Đồng thau đă được sử dụng để chế tác công cụ
và vũ khí , song vào thời kỳ cuối đồ sắt
chiếm ưu thế vè số lượng và chất lượng, kỹ
thuật.
-
Văn hóa. Phát triển mạnh với các nghề sợi,
dệt vải, chế tạo gốm, đồ trang sức, có khiếu
thẩm mỹ, khéo tay và có một mỹ cảm tuyệt
vời. nấu cát làm thủy tinh, làm đồ trang sức
-
Kinh tế khai thác các nguồn t́a nguyên từ
rừng và biển. PT nghề thủ công và từng bước
phát triển quan hệ với các nước đông nam á.
- Văn hóa Đồng
Nai
+ Cách đây
khoảng 4000 năm ở ĐNB xuất hiện một lớp
người họ là chủ nhân của nền văn hóa Đnai
thuộc thời đại kim khí. Đồ đá là loại di vật
phổ biến và có số lượng lớn, đây cũng là
những điểm lớn nhất của nền văn hóa ĐN nơi
mà công cụ bằng đá tồn tại dài lâu do nguồn
kim loại khu vực này bị hạn chế.
+ Đồ gốm và nghề làm gốm tồn tại suốt quá
tŕnh lịch sử của cư dân VH ĐN.
+ Văn hóa ĐN c̣n nổi tiếng bởi sưu tập công
cụ gỗ phong phú về chủng loại và số lượng
Đời sống kinh tế là trông lúa, các cây nông
nghiệp, dùng sức kéo, chăn nuôi gia súc
Văn hóa Việt
Nam Thiên niên kỷ đầu Công Nguyên
+ Bối cảnh Văn
hóa – Lịch sử:
Vào năm 179 TCN
giặc phương bắc sâm lược nước ta, trai qua
nhiều thời kỳ đấu tranh của Hai Bà Trưng năm
43 SCN và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô
Quyền năm 938. trong diễn tŕnh lịch sử với
su hướng Hán hóa và chống Hán hóa mạnh mẽ,
giữ ǵn bản sắc dân tộc và văn hóa Việt.
trải qua hơn 10 thế kỷ cưỡng chế, đồng hóa
nền văn hóa của phong kiến phương bắc nhưng
đặc trưng cơ bản của Văn hóa Việt thời kỳ
này là đấu tranh bảo vệ dân tộc, bản sắc văn
hóa dân tộc, không ngừng phát triển và nung
nấu tinh thân đấu tranh giải phóng dân tộc.
có 3 đặc trưng cơ bản trong thời kỳ này.
* Tiếp xúc
cưỡng bức, giao thoa văn hóa Việt – Hán
* Giao lưu văn
hóa tự nhiên Việt - Ấn
* Giữ ǵn bảo
tồn và phát triển bản sắc dân tộc để chống
lại sự đồng hóa của văn hóa Hán.
- Tiếp xúc và
giao thoa văn hóa Việt – Hán.
Với việc sâm
lược về lănh thổ, nhà Hán đă có những chính
sách đồng hóa về Văn hóa trên mọi phương
diện đối với nước ta.
+ Về chính trị
- xă hội: nhà án đă áp dụng, thiết lập một
thể chế về tổ chức xă hôi, chính trị phương
thức sản xuất, phong tục tập quán giống như
của người Hán, và chính sách di dân sống
chung với người việt nhăm mục đích đồng hóa
người việt.
+ Với sự ồ ạt
đồng hóa như vậy người hán đă truyền bá các
học thuyết tôn giáo của phương đông, đạo
nho, đạo lăo, đạo trang vao VN.
+ Về ăn mặc
cách sống, đi lại, phương thức sản xuất,
quan hệ xă hội, tiếng nói đều bị ảnh hưởng.
Song. Bên cạnh
việc đồng hóa của người Hán là su hướng
chống hán hóa của người Việt để giữ ǵn bản
sắc văn hóa nhưng cũng có một số yếu tố bị
phá vỡ và ḥa lẫn vào nền văn hóa của người
Việt cổ và những nền văn hóa khác như Ấn
Độ.. đă đẫn đến một sắc thái văn hóa văn
minh mới.
- Giao lưu văn hóa
tự nhiên Việt - Ấn
Vào những thế
kỷ đầu CN Phật giáo từ Ấn Độ truyền bá vào
nước ta với hai tông phái là Đại thừa và
Tiểu thừa, thời kỳ này phật giáo đă bị biến
đổi khá nhiều để phù hợp với phong tục, tập
quán cua người bản địa do vậy người Việt đă
tiếp thu được nhiều thành tựu văn hóa vật
chất, ngôn ngữ và tinh thần trong đó có đạo
Phật.
- Giữ ǵn, bảo
tồn và phát triển bản sắc dân tộc
Hàng ngh́n năm
trước người Việt dưới thời bắc thuộc vẫn giữ
ǵn, bảo tồn và phát huy những cái vốn có
của nền văn hóa bản địa nó là cái nôi của sự
phát triển và tích lũy.
Với nhữnh yếu
tố sẵn có và sự tiếp thu của các nền văn hóa
ĐNA, Ấn Độ, Tây Á…có tác dụng làm trung ḥa
nền văn hóa Trung Hoa, điều này đă tích lũy
nên những đặc điểm độc đáo của người Việt
như: chế tác ra các loai giấy, khai thác
nguồn nguyên liệu quư từ thiên nhiên (Trầm
hương) sản xuất các mặt hàng độc đáo như:
b́nh con tiện có đầu voi, b́nh gốm…
Về ngôn ngữ:
là một thành tựu văn hóa, tiếng việt thuộc
nhóm ngôn ngữ được xác lập từ xưa ở ĐNA điều
này chứng tỏ cái gốc tích lâu đời của dân
tộc ta trên giải đất này. Khi bị Trung hoa
chinh phục và kiểm soát chặt chẽ, tiếng hán
và chữ hán được du nhập ồ ạt và nước ta
nhưng nó không thể lấn át và tiêu diệt được
tiếng Việt bởi v́: chỉ có những người có địa
vị học chư con tầng lớp nhân dân lao động
trong xóm làng vẫn sống theo cách riêng của
ḿnh cho nên đă duy tŕ được tiếng nói của
tổ tiên, tiếng nói biểu hiện sức sống và tâm
hồn người Việt.
Với du nhập và
đồng hóa theo thời gian tiếng việt cũng có
một số thay đổi độc đáo, sáng tạo, đă Việt
hóa được những từ ngữ bằng cách đọc, cách
dùng để tạo thành một lớp từ mới c̣n gọi là
Hán – Việt. và một số từ ngữ của người Việt
được hội nhập vào Hán ngữ và tạo nên một lớp
từ Việt – Hán.
Ngoài ra ngôn
ngữ của người Việt cũng hấp thụ những ảnh
hưởng của ngôn ngữ Ấn Độ, Mă Lai.. đặc biệt
là các từ ngữ về Phật giáo như: Bụt, Bồ tát,
bồ đề, chùa tháp, tăng già đă làm cho kho
tàng ngôn ngữ của người Việt trở nên phong
phú.
Về Văn hóa:
Từ
thời Hùng Vương, đă có một nền phong hóa
riêng của người Việt cổ tuy c̣n giản dị,
chất phát. Trung hoa đă đưa vào xă hội ta
nhiều thứ lễ giáo như đạo nho nó đă ảnh
hưởng đến phong hóa của người Việt, tăng
cường sự áp chế trong gia đ́nh và chế độ phụ
quyền . nhưng nhân dân ta có khả năng thích
ứng với mọi loại t́nh thế và nền phong hóa
của Việt Nam vẫn được phát triển và giữ ǵn.
Tính cộng đồng của làng xóm, ḷng tôn kính
biết ơn đối với cha mẹ tổ tiên, tôn trọng
phụ nữ trong gia đ́nh, đề cao vai tṛ của
người phụ nữ tam ṭng tứ đức với truyền
thống dũng cảm đánh giặc của hai Bà Trưng.
Sự tôn trọng người phụ nữ thể hiện qua h́nh
thức đánh trống Làng, ngôi chùa được xây
dựng sớm nhất là chùa Bà Dâu.
Bên cạnh phong
tục dùng trống đồng, nhiều tục lệ cổ truyền
khác vẫn được giữ vững như cạo tóc, búi tóc,
xăm ḿnh, chôn cất người quá cố trong quan
tài h́nh thuyền hay thân cây khoét rồng, tục
nhuộm răng, ăn trầu…một số phong tục tập
quán thay đổi như: giă gạo bằng chày dần
chuyển sang giă gạo bằng cối đạp (đ̣n bẩy),
từ tập tục ở nhà sàn dần đă chuyển sang mô
h́nh nhà đất bằng và cả mô h́nh kết hợp nhà
sàn và nhà đất.
Văn học nghệ
thuật: bằng h́nh thức truyền miệng nền văn
học dân gian đă phát triển khá mạnh và tồn
tại dưới dạng các huyền thoại, huyền tích,
ca dao, tục ngữ, các bài đồng giao các nhạc
cụ âm nhạc chịu ảnh hưởng của Trung Hoa như
khánh, chuông.. các nhạc cụ của Ấn Độ và các
nước trung Á như: trống cơm, hồ cầm nhưng
vẫn tồn tại những nhạc cụ độc đáo của người
Việt như Trống, khèn, cồng chiêng…
Phần cốt lơi
của văn hóa tinh thần là tư tưởng mà ngày
trước thường biêu rhiện chủ yếu dưới h́nh
thức tôn giáo, tín ngưỡng.
Văn hóa Việt
Nam thời tự chủ.
* Đặc trưng văn
hóa thời Lư Trần
Văn hóa vật
chất: Sau khi dời đô tại Thăng Long, nhà Lư
cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài, thành
lũy. Kiến trúc phát triển mạnh như: Chùa
Giạm, Chùa một cột, tháp Báo thiên..
Nghệ thuật điêu
khắc trên đá trên gốm thể hiện phong cách
đặc sắc và một tay nghề khá thuần thục, h́nh
tượng con rồng thơi fkỳ này khá độc đáo
Phát triển nghề
thủ công như dệt, gốm, mỹ nghệ. Nghề gốm la
fnghề có bước phát triển khá dài và có tŕnh
độ cao. Thành lập các lang fnghề sản xuất
chuyene một mặt hàng nhất định.
Thời Lư – Trần
là sự dung ḥa tam giáo (Nho – Phật – Đạo)
c̣n gọi là chính sách tam giáo đồng nguyên.
Đến thế kỷ 10 phật giáo đă có bước phát
triển lớn nhiều chù chiền xuất hiện năm 1031
nhà Lư xây dựng 950 chùa, năm 1129 khánh
thành 84.000 bảo tháp, nhà vua và các tầng
lớp quư tộc rất sùng mộ đạo phật, các tăng
sĩ, tín đồ phật giáo phát triển cả về số
lượng và chất lượng
Phật giáo giai
đoạn này c̣n tác động đến tư tưởng, tâm lư
phong tục và nếp sống của đông đảo nhân dân
ở các làng xă, nó ảnh hưởng đến kiên strúc,
thơ văn, nghệ thuật.
Để đào tạo nhân
tài, nhà Lư bắt đầu chăm lo việc học hành và
thi cử năm 1070 nhà Lư dựng Văn Miếu đúc
tượng chu công mở Quốc Tử Giám.
Đến nhà Trần
vương triều đă chính quy hóa, tạo quy củ cho
việc học hành, thi cử, lập Quốc học viện để
cho con em quan lại, quư tộc vào học.
Tầng lớp nho sĩ
ngày một nhiều, nho giáo dần lấn át phật
giáo
- Nền văn hóa bác học h́nh thành và phát
triển với một đội ngũ tác giả hùng hậu được
tạo ra từ 2 nguồn tri thức Phật giáo và tri
thức nho giáo. Phần chủ yếu trong văn học
thời Lư là thơ, phần lớn là các bai fthơ của
nhà sư nội dung có liên quan đến giáo lư
thiền tông nhưng nhiều bài vẫn có ư nghĩa
nhân sinh và giá trị văn hóa đó là: (Nam
Quốc Sơn Hà), Chiếu dời đô của Lư Công Uẩn.
Thời Trần các tác giả đều là nho sĩ: Chu Văn
An, Chương Hán Siêu, Nuyễn phi Khanh, Phạm
sự Mạnh…
Bên cạnh chữ
viết Hán lịch sử thời này c̣n chứng kiến sự
phát triển của văn học chữ nôm các tác giả
như: Trần Nhân Tông, mạc đĩnh Chi…các ngành
nghệ thuật như tuồng, chèo cũng ra đời và
phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị
trong kho tàng văn hóa dân gian
*
Đặc trưng văn hóa thời Minh thuộc và Hậu
Lê.
Nhà Hồ thay thế
nhà Trân mộtkhoảng thời gian rất ngắn
khoảng 7 năm từ 1400 – 1407 Hồ Quư Li đă
tiến hành cải cách có những mặt tiến bộ nhất
định.
Tháng 04 – 1407
nhà Minh chiếm Đại Việt và đổi nước ta thành
quận Giao Chỉ, thực hiện chính sách cai trị
hà khắc và nhằm thủ tiêu văn hóa Đại Việt
bằng mọi cách đập phá các văn bia, đốt sách,
bắt ăn mặc theo Trung Quốc. mục đích cuối
cùng là chúng muốn đồng hóa người Việt thành
người Hán. Toàn thể dân tộc ta phải đứng
trước những thử thách ngặt nghèo buộc ta
phải cố gắng giữ ǵn bản sắc văn hóa của
minh.
Cuộc khởi nghĩa
ở Lam Sơn của nhân dân yêu nước với ḷng căm
thù hiặc đă chiến thắng sự sâm lược của nhà
Minh. Trang sử mới của đất nước được mở ra,
văn hóa dân tộc bước vào thời kỳ phục hưng.
Giá trị vật
chất: Nhà Lê rất quan tâm đến đê điều và các
công tŕnh thủy lợi sau một thời gian bị tàn
phá nặng nề, các ngành nghề, làng nghề phát
triển trở lại.
+ Về giáo dục:
Nhà Lê chú trọng mở mang giáo dục theo cách
mới, chế đọ thi cử của nhà Lê khá quy củ cứ
03 năm một lân ftổ chứ thi hội, tại các địa
phương là thi hương. Nho giáo trong thời kỳ
này cũng chiếm một vị trí ưu thế trong đời
sống tư tưởng
+ Về văn hóa:
thành tựu văn hóa phải nghi nhận là luật
Hồng Đức, văn hóa chữ Nôm vẫn phát triển
(Quốc âm thi tập) của Nguyễn Trăi với 254
bài thơ là khối lượng thơ nôm cổ nhất c̣n
lại.
+ Về kiến trúc
và điêu khắc. h́nh tượng con rồng thời Lê
chuyển hóa khác con rồng thời Lư – Trần, nó
to khỏe, có sừng và lông gáy tua tủa có chân
5 ngón quặp vào trở thành biểu tượng cho
quyền uy phong kiến.
+ Giá trị tinh
thần: loại h́nh ca múa nhạc vẫn tiếp tục
phát triển. Tuồng, chèo là hai loại h́nh sân
khấu đạt đến sự ổn định về mặt nghệ thuật.
+ Tín ngưỡng:
thờ Thành Hoàng Làng có sự thay đổi về lượng
và diện mạo, đ́nh làng trở thành nơi thờ các
vị thần thánh ở mỗi làng quê.
* Đặc trưng của
văn hóa từ thế kỷ 16 đến năm 1858
- Hệ tư
tưởng
+ Từ cuối thế
kỷ 16 đến thế kỷ 18 đời sống tư tưởng ở Việt
Nam càng trở nên phức tạp, giai cấp phong
kiến sa đọa, đánh mất vai tṛ chủ đạo trong
xă hội. Thế kỷ 18 đánh dấu sự tan vỡ của nho
giáo. Một số có tấm long ưu thời mẫn thế th́
quay về ở ẩn hoặc tham gia khởi nghĩa nông
dân, đa số đau chen trong trường danh lợi sự
suy sụp của nho giáo kéo dài cho đến đầu thế
kỷ 19.
+ Bắt đầu thế
kỷ 19 tôn giáo mới được du nhập vào nước ta
đạo kito do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha truyền đạo vào nước ta bằng đường biển.
+ Các đời vua,
vương chiều có thái độ khác nhau với tôn
giáo này, tuy vậy kito giáo vẫn xuất hiện ở
Việt Nam với tư cách một tôn giáo trong đời
sống tư tưởng của người dân.
- Sự xuất hiện
chữ quốc ngữ. từ thế kỷ 17 khi vào nớc ta
các giáo sĩ đă học tiếng việt để giảng đạo ,
dùng chữ La tinh để phiên âm tiếng việt, chữ
quốc ngữ dần xuất hiện từ đây.
Sáng tạo ra chữ
quốc ngữ là công tŕnh của nhiều giáo sĩ
phương tây nhưng trong công tŕnh này đóng
góp của người Việt không hề nhỏ. Sự xuất
hiện chữ quốc ngữ se đưa gười Việt phát
triển văn hóa lên một bước tiến mới.
Viêt Nam từ
1945 - nay
Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công,
nhân dân Việt Nam đă phải đương đầu với
những âm mưu và hành động xâm lược của nhiều
kẻ thù bên ngoài. Năm 1946, thực dân Pháp đă
trở lại xâm lược Đông Dương. Nhân dân Việt
Nam dưới sự lănh đạo của
Đảng Cộng sản Đông Dương (tên của Đảng Cộng
Sản Việt Nam thời đó) và Chủ tịch Hồ Chí
Minh tiến hành cuộc kháng chiến, bảo vệ nền
độc lập của ḿnh. Chiến thắng Điện Biên Phủ
lịch sử đă kết thúc cuộc kháng chiến trường
kỳ, gian khổ lần thứ nhất của nhân dân Việt
Nam. Với Hiệp định Genève (1954), độc lập,
thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam
đă được thế giới chính thức thừa nhận.
Sau khi Thực dân Pháp rút khỏi miền Bắc,
nước Việt Nam vẫn bị chia cắt làm hai miền.
Miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra) là nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, bắt đầu công cuộc
xây dựng đất nước. ở miền Nam, từ vĩ tuyến
17 trở vào gọi là Việt Nam Cộng hoà, vẫn
diễn ra cuộc chiến tranh giữa một bên là
nhân dân miền Nam và một bên là chính quyền
Sài G̣n và quân đội Mỹ. Nhân dân Việt Nam
một lần nữa phải chịu đựng một cuộc chiến
tranh ác liệt trong gần 20 năm để giành lại
độc lập dân tộc. Sau hiệp định Pari (1973),
quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Với chiến
thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 30 tháng 4
năm 1975, chính quyền Sài G̣n sụp đổ.
Đất
nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, lấy tên
là nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam,
thủ đô là Hà Nội. Dân tộc Việt Nam bắt tay
vào khắc phục những hậu quả nặng nề của 30
năm chiến tranh, xây dựng lại đất nước. Ngày
nay, dân tộc Việt Nam đang bước vào kỷ
nguyên mới xây dựng và phát triển kinh tế,
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă
hội công bằng và văn minh. |